KỲ 1 - KHAI THÁC HIỆU QUẢ NĂNG LƯỢNG SƠ CẤP: ĐA DẠNG HÓA ĐỂ BẢO ĐẢM AN NINH NĂNG LƯỢNG

1.1. Bảo đảm an ninh năng lượng trong bối cảnh thế giới biến động

1.1.1. Bối cảnh năng lượng thế giới 2025

Trong gần nửa thế kỷ qua, tổng tiêu thụ năng lượng sơ cấp toàn cầu đã tăng gần 2,5 lần, từ khoảng 80.000 TWh năm 1975 lên hơn 180.000 TWh vào năm 2024. Mặc dù trải qua những giai đoạn biến động như khủng hoảng dầu mỏ thập niên 1980, suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2009 hay đại dịch COVID-19 năm 2020, xu hướng tăng trưởng năng lượng nhìn chung vẫn liên tục và ổn định [1].

Hình 1: Cơ cấu tiêu thụ năng lượng sơ cấp toàn cầu, giai đoạn 1975 – 2024 (Nguồn: Our World in Data).

Năm 2025 chứng kiến cuộc chiến Nga – Ukraina tiếp tục kéo dài và khốc liệt cùng với các lệnh trừng phạt mở rộng do Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu (EU) áp đặt đối với Nga; chứng kiến cuộc xung đột ở Trung Đông giữa Israel với Hamas và các đợt căng thẳng leo thang giữa Israel và Iran; thế giới cũng đã và đang chứng kiến cuộc chiến thuế quan giữa Hoa Kỳ với nhiều nước khác. Đồng thời với các bất ổn địa chính trị và thương mại đó, thế giới cũng trở nên mong manh hơn trước các thảm họa thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan diễn ra ở nhiều khu vực trên thế giới.

Trong bối cảnh toàn cầu đó, nhu cầu năng lượng thế giới vẫn tiếp tục tăng, chủ yếu tới từ tiêu thụ năng lượng tại các thị trường mới nổi như châu Phi, các nước ASEAN và Ấn Độ, và sự phát triển của các loại hình tiêu thụ năng lượng mới, đặc biệt là các trung tâm dữ liệu tại EU, Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Trong một thế giới mong manh và đầy biến động, nhiều chuỗi cung ứng năng lượng truyền thống bị đứt gãy và phân mảnh theo lợi ích của các quốc gia liên quan. Các dòng chảy dầu khí trước đây được Nga cấp cho các nước trong EU, nay được chuyển hướng cung cấp chủ yếu cho Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước châu Á. Hoa Kỳ gia tăng sản xuất LNG để cấp cho các nước châu Âu nhằm bù vào phần thiếu hụt do các nước này ngừng nhập khẩu từ Nga. Than được sản xuất chủ yếu tại Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Úc, Nga và Nam Phi, trong đó ba nước đầu tiên cũng là các hộ tiêu thụ chính cùng với các hộ tiêu thụ khác là các nước Đông Nam Á.

Năm 2024, nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí tự nhiên) vẫn chiếm khoảng gần 80% tổng cung năng lượng sơ cấp, không thay đổi đáng kể so với thập niên 1970. Trong đó, dầu mỏ tiếp tục là nguồn năng lượng chiếm tỷ trọng lớn nhất, khoảng 30%, tiếp theo là than và khí tự nhiên. Khí tự nhiên là nguồn có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong nhóm hóa thạch, trong khi than có dấu hiệu chững lại trong những năm gần đây [1]. Năng lượng tái tạo đặc biệt là điện gió và điện mặt trời đã tăng trưởng mạnh trong hai thập kỷ qua, từ mức không đáng kể vào năm 2000 lên chiếm khoảng 6% tổng năng lượng sơ cấp toàn cầu năm 2024. Thủy điện vẫn giữ vai trò ổn định ở mức khoảng 6%, trong khi năng lượng hạt nhân đang dần phục hồi sau giai đoạn chững lại [1].

Vốn đầu tư cho ngành năng lượng tiếp tục tăng qua 5 năm gần đây và dự kiến năm 2025 tổng vốn đầu tư đạt 3,3 nghìn tỷ USD, tăng 2% so với năm 2024. Trong đó, hơn 2,2 nghìn tỷ USD sẽ được phân bổ cho các lĩnh vực năng lượng sạch, bao gồm năng lượng tái tạo (NLTT), hạt nhân, lưới điện, lưu trữ, nhiên liệu phát thải thấp, hiệu quả sử dụng năng lượng và điện khí hóa. Khoản đầu tư này gấp đôi so với mức chi cho các nguồn năng lượng hóa thạch truyền thống. Đầu tư vào năng lượng hóa thạch được dự báo có sự sụt giảm lần đầu tiên kể từ năm 2020, trong khi đó đầu tư vào các lĩnh vực năng lượng sạch đều tăng [2].

Hình 2: Đầu tư vào các lĩnh vực năng lượng trên thế giới giai đoạn 2015 - 2025 (Nguồn: IEA).

Sự chuyển dịch cơ cấu năng lượng sơ cấp sẽ được dẫn dắt bởi phát triển nguồn năng lượng gió và mặt trời, với chỉ 3% hiện tại tăng lên trên một phần ba tổng nhu cầu năng lượng sơ cấp. Cùng với sự phát triển của thủy điện và hạt nhân, năng lượng phi hóa thạch được DNV dự báo sẽ chiếm ưu thế từ giữa thế kỷ XXI [3]. 

Hình 3: Nguồn cung năng lượng sơ cấp giai đoạn 2010 – 2060 (Nguồn: IEA).

Tuy cùng chung nhận định về xu hướng chuyển dịch năng lượng đang diễn ra, các tổ chức khác như McKinsey và tập đoàn BP dự báo nhiên liệu hóa thạch vẫn chiếm phần lớn tổng cung năng lượng sơ cấp vào năm 2050 [4], [5]. Trong ngắn hạn, nhu cầu khí tự nhiên tăng bù đắp sự giảm nhu cầu than và dầu mỏ, giữ nhu cầu nhiên liệu sơ cấp ổn định. Tỷ trọng năng lượng tái tạo sẽ tăng nhanh trong các thập kỷ tới và lần lượt vượt qua các nhiên liệu hóa thạch truyền thống.

Hình 4: Xu hướng chuyển dịch năng lượng sơ cấp (Nguồn: BP).

Nhìn chung, một số nhận định về xu hướng phát triển năng lượng sơ cấp có thể được rút ra như sau: 

  • Nhiên liệu hóa thạch vẫn giữ vai trò chủ đạo trong vòng 10 – 15 năm tới.
  • Năng lượng tái tạo sẽ chuyển dần từ vai trò nguồn bổ sung sang nguồn cung chủ đạo vào khoảng giữa thế kỷ.
  • Sự chuyển dịch năng lượng toàn cầu đang diễn ra, nhưng với tốc độ chậm hơn đáng kể so với quỹ đạo cần thiết để đạt mục tiêu Net Zero hoặc giới hạn mức tăng nhiệt độ toàn cầu ở 1,5 – 2°C.

1.1.2. Các yếu tố bảo đảm an ninh năng lượng

An ninh năng lượng là một trong ba trụ cột trong Khung Tam giác năng lượng (World Energy Trilemma), bên cạnh “Bền vững môi trường” và “Khả năng tiếp cận và chi trả” do Hội đồng Năng lượng Thế giới (WEC) đề xuất từ năm 2010. Khung Tam giác năng lượng giúp đánh giá hiệu quả và tính bền vững của hệ thống năng lượng quốc gia, bao gồm:

  • An ninh năng lượng – khả năng đảm bảo cung ứng năng lượng liên tục, ổn định, an toàn và có khả năng chống chịu trước các cú sốc.
  • Khả năng tiếp cận và chi trả – khả năng cung cấp năng lượng với chi phí hợp lý, bảo đảm khả năng tiếp cận bình đẳng cho người dân và doanh nghiệp.
  • Bền vững môi trường – mức độ giảm phát thải, sử dụng năng lượng sạch và bảo vệ môi trường sinh thái.

Theo WEC (2024), sự cân bằng giữa ba trụ cột này phản ánh mức độ “bền vững tổng thể” của một hệ thống năng lượng, được lượng hóa thông qua Chỉ số World Energy Trilemma Index, đây là công cụ đánh giá hơn 120 quốc gia mỗi năm [6].

Bảng 1: Các tiêu chí An ninh năng lượng các quốc gia theo Khung Tam giác năng lượng của WEC

 Nhóm yếu tố

Yếu tố chính

Bảo đảm cung – cầu năng lượng

  • Sự đa dạng nguồn cung năng lượng sơ cấp
  • Sự phụ thuộc vào nhập khẩu

Khả năng phục hồi của hệ thống năng lượng

  • Đa dạng nguồn sản xuất điện
  • Dự trữ năng lượng
  • Khả năng ổn định và phục hồi hệ thống

Theo điểm số của các quốc gia, WEC xếp hạng và thể hiện thành 4 nhóm. Các quốc gia thuộc khu vực châu Âu, Bắc Mỹ và châu Úc dẫn đầu về điểm số, thể hiện khả năng cân bằng tốt giữa ba trụ cột của Bộ chỉ số. Trong khi đó, một số nước khu vực Đông Nam Á được đánh giá cao về mức độ tiếp cận điện năng rộng và giá năng lượng hợp lý, nhưng có điểm số thấp hơn về khả năng dự trữ chiến lược và phát thải CO₂ trong sản xuất điện do phụ thuộc đáng kể vào nhiên liệu hóa thạch.

Hình 5: Xếp hạng theo Bộ Chỉ số Tam giác năng lượng (Nguồn: WEC).

Việt Nam hiện xếp thứ 56 toàn cầu về điểm số tổng thể, với 61,9 điểm cho tiêu chí An ninh năng lượng, 70,5 cho tiêu chí Khả năng tiếp cận và chi trả và 57,7 cho tiêu chí Bền vững môi trường, dựa trên các số liệu cập nhật đến năm 2023 [7]. Trong trụ cột An ninh năng lượng, Việt Nam được đánh giá có sự cải thiện về đa dạng hóa nguồn cung năng lượng, song gia tăng mức độ phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu. Khả năng dự trữ chiến lược vẫn là yếu tố có điểm số thấp nhất và chưa có nhiều cải thiện đáng kể trong những năm trở lại đây. Về Khả năng tiếp cận và chi trả, Việt Nam được đánh giá cao ở tỷ lệ dân số được tiếp cận điện năng; đồng thời, chi phí điện và nhiên liệu tương đối hợp lý so với các quốc gia khác. Về Bền vững môi trường, lượng phát thải từ quá trình đốt nhiên liệu tính trên đầu người và tỷ lệ giữa mức tiêu thụ năng lượng cuối cùng và GDP đang có xu hướng tăng, gây giảm điểm số ở mục này. Bên cạnh đó, các yếu tố đánh giá môi trường chung như Khả năng đổi mới sáng tạo quốc gia, gồm số lượng và chất lượng của các hoạt động nghiên cứu và phát triển chính quy, vẫn còn ở mức thấp so với các quốc gia khác.

Hình 6: Tam giác năng lượng của Việt Nam (Theo WEC).

Mặc dù có nhiều cách tiếp cận và tiêu chí đánh giá về an ninh năng lượng khác nhau trên thế giới, Khung Tam giác năng lượng của WEC cung cấp một cách tiếp cận tổng thể và có hệ thống, cho phép nhìn nhận an ninh năng lượng không chỉ dưới góc độ bảo đảm nguồn cung, mà như một tập hợp các năng lực bao gồm khả năng dự phòng, phản ứng linh hoạt và phục hồi sau khủng hoảng. Trên cơ sở khung phân tích này, có thể xác định các nhóm yếu tố then chốt mà Việt Nam cần xem xét trong bảo đảm an ninh năng lượng, sẽ được phân tích cụ thể trong phần tiếp theo.

1.1.3. Các vấn đề tác động tới an ninh năng lượng Việt Nam

a. Sự đa dạng nguồn cung năng lượng sơ cấp

Trong bối cảnh phát triển năng lượng chung trên thế giới, đa dạng nguồn cung năng lượng sơ cấp tới từ việc phát triển mạnh mẽ các nguồn năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió và điện mặt trời, nhằm thay thế dần nhiên liệu hóa thạch. Tại Việt Nam, mặc dù có những giai đoạn phát triển mạnh mẽ năng lượng tái tạo trước đây, tỷ trọng nhiên liệu hóa thạch vẫn duy trì ở mức cao với gần 80% trong tổng cung năng lượng sơ cấp giai đoạn 2019 – 2023 [8].

Hình 7: Tổng cung năng lượng sơ cấp giai đoạn 2019 – 2023 (Nguồn: VNEEP).

Mức độ đa dạng của nguồn cung năng lượng được lượng hóa thông qua chỉ số Herfindahl – Hirschman (HHI), được tính trên cơ sở tỷ trọng của từng loại năng lượng trong tổng cung và có giá trị trong khoảng từ 0 đến 10.000. Chỉ số HHI gia tăng trong những năm gần đây phản ánh xu hướng tập trung nguồn cung ngày càng rõ rệt. Sự gia tăng mức độ phụ thuộc vào một số ít loại năng lượng kéo theo rủi ro lớn hơn đối với an ninh năng lượng của Việt Nam.

Hình 8: Mức độ đa dạng hóa nguồn cung năng lượng sơ cấp giai đoạn 2013 – 2023 (Nguồn số liệu: VNEEP).

Nhằm đa dạng hóa nguồn cung năng lượng sơ cấp và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đã định hướng phát triển đồng bộ và đa dạng các loại hình nguồn điện theo cơ cấu hợp lý, phù hợp với xu thế chuyển dịch năng lượng và mục tiêu giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. Các loại hình nguồn điện như điện hạt nhân, thủy điện tích năng, điện mặt trời mái nhà… đang được triển khai đồng bộ, giúp đa dạng hóa nguồn cung năng lượng sơ cấp. Tuy vậy, Nghị quyết 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 (Nghị quyết 70) cũng chỉ ra một số hạn chế cần khắc phục để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, ví dụ như: việc khai thác tiềm năng năng lượng sơ cấp chưa hiệu quả, tiến độ thực hiện nhiều dự án điện còn chậm.

b. Sự phụ thuộc vào nhập khẩu

Theo Ember (2025) ba phần tư dân số thế giới đang sống ở các quốc gia nhập khẩu ròng nhiên liệu hóa thạch, trong đó châu Á là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Việc phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu khiến chi phí năng lượng tăng cao và làm cho các quốc gia dễ bị tổn thương trước những biến động về thuế quan, chính sách thương mại hay xung đột địa chính trị [9]. Việt Nam cũng nằm trong nhóm quốc gia nhập khẩu ròng nhiên liệu hóa thạch cho nhu cầu năng lượng sơ cấp và vì vậy phải đối mặt với những rủi ro tương tự.

Theo số liệu của Cục Thống kê, lượng nhập khẩu than, dầu thô và các sản phẩm dầu khí có xu hướng tăng trở lại sau giai đoạn sụt giảm mạnh do tác động của đại dịch COVID-19. Trong đó, than là loại nhiên liệu ghi nhận mức giảm sâu nhất trong thời kỳ dịch bệnh, đồng thời cũng phục hồi nhanh nhất khi nền kinh tế mở cửa trở lại. Nguồn than nhập khẩu chủ yếu đến từ Indonesia và Úc, phần lớn được sử dụng cho sản xuất điện [10]. Theo báo cáo của VNEEP năm 2024, lượng nhập khẩu ròng nhiên liệu hóa thạch chiếm gần 40% tổng cung năng lượng sơ cấp [8]. Sự phụ thuộc này là một trong số những điểm nghẽn trong việc đảm bảo nguồn cung năng lượng đã được chỉ ra tại Nghị quyết 70.

Hình 9: Lượng nhập khẩu than, xăng dầu và khí đốt hóa lỏng giai đoạn 2020 - 2025 (Nguồn dữ liệu: Cục Thống kê).

c. Sự đa dạng nguồn sản xuất điện

Trong cơ cấu sản xuất điện tại Việt Nam, nhiệt điện than tiếp tục giữ vai trò nguồn điện nền chủ lực, đóng góp gần một nửa tổng sản lượng điện; tiếp theo là thủy điện với tỷ trọng xấp xỉ một phần ba. Tuy vậy, khoảng 35% than cho phát điện của Việt Nam phải nhập khẩu, khiến chi phí sản xuất điện chịu tác động mạnh từ biến động giá và nguồn cung quốc tế [11]. Mặc dù thủy điện được xem là nguồn điện nền ổn định, song vẫn phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết và lượng nước về hàng năm. Khi thủy điện được huy động nhiều kết hợp với giảm nhu cầu phụ tải có thể dẫn tới cắt giảm nguồn năng lượng tái tạo trong ngắn hạn [12]. Trong khi đó, cơ cấu các nguồn năng lượng tái tạo khác còn thấp và không có nhiều thay đổi trong những năm gần đây.

Hình 10: Cơ cấu sản lượng điện Việt Nam 10 tháng đầu năm 2025 (Nguồn dữ liệu: EVN).

d. Dự trữ năng lượng

Theo WEC, dự trữ năng lượng là một yếu tố chính giúp bảo đảm an ninh năng lượng, bao gồm cả dự trữ nhiên liệu dạng lỏng và khí cũng như các dạng lưu trữ năng lượng điện. Dự trữ năng lượng phản ánh khả năng của một quốc gia trong việc đáp ứng nhu cầu dầu khí trong ngắn và trung hạn khi xảy ra gián đoạn nguồn cung, đồng thời là công cụ giúp cân bằng và đồng bộ hóa nguồn năng lượng tái tạo biến động với phụ tải.

Việt Nam hiện được xếp ở mức thấp về tiêu chí dự trữ năng lượng trong khung đánh giá của WEC. Hiện nay, lượng dự trữ xăng dầu của Việt Nam chỉ tương đương khoảng 20 ngày tiêu thụ, trong khi nhiều quốc gia duy trì mức dự trữ từ 60 đến 90 ngày [13]. Cú sốc năng lượng tại châu Âu sau xung đột Nga – Ukraina đã cho thấy tầm quan trọng của việc tăng cường năng lực dự trữ nhiên liệu và hạ tầng lưu trữ, là bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam trong quá trình xây dựng hệ thống dự trữ năng lượng quốc gia có khả năng chống chịu tốt hơn trước rủi ro nguồn cung. Bên cạnh đó, trong bối cảnh tỷ trọng năng lượng tái tạo trong hệ thống điện ngày càng tăng, việc mở rộng năng lực lưu trữ điện thông qua thủy điện tích năng và pin lưu trữ quy mô lưới trở nên cấp thiết nhằm bảo đảm cân bằng công suất, duy trì ổn định vận hành và nâng cao độ tin cậy của hệ thống điện quốc gia. Phát triển các hệ thống lưu trữ năng lượng điện để giảm biến động phụ tải, hấp thụ và điều tiết công suất từ các nguồn năng lượng tái tạo biến đổi cũng là một trong những khuyến nghị quan trọng của IEA dành cho Việt Nam [14].

e. Khả năng ổn định và phục hồi hệ thống

Bên cạnh mục tiêu bảo đảm nguồn cung, năng lực của hệ thống năng lượng trong việc dự báo, thích ứng, phục hồi và duy trì hoạt động ổn định trước các rủi ro và biến động khó lường ngày càng được các quốc gia coi là yếu tố trọng yếu của an ninh năng lượng [6].

Nghị quyết 70 đã chỉ rõ những hạn chế liên quan đến khả năng phục hồi hệ thống năng lượng của Việt Nam, bao gồm: hạ tầng năng lượng chưa đồng bộ; lưới điện chưa thông minh, kết nối chưa hiệu quả; năng lực lưu trữ và điều độ còn hạn chế. Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến độ tin cậy và tính linh hoạt của hệ thống điện, khiến khả năng ứng phó và phục hồi sau gián đoạn còn thấp.

Yêu cầu năng lực điều độ, dự báo phụ tải và quản lý vận hành linh hoạt ngày càng tăng khi tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo biến đổi như điện gió, điện mặt trời. Để nâng cao khả năng ổn định và phục hồi hệ thống, cần đầu tư hiện đại hóa lưới điện truyền tải, tích hợp công nghệ số, hệ thống giám sát và cơ chế vận hành thông minh, đồng thời phát triển thị trường dịch vụ phụ trợ và cơ chế điều chỉnh phụ tải.

1.2. Khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng sơ cấp trong giai đoạn mới

1.2.1. Hiện trạng khai thác và sử dụng các nguồn năng lượng sơ cấp trong nước

Nguồn cung năng lượng sơ cấp của Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc lớn vào nhiên liệu hóa thạch. Than chiếm gần 50% tổng cung, tiếp theo là dầu khí và các sản phẩm dầu với khoảng 25% trong năm 2023 [8]. Than giữ vai trò chủ đạo trong sản xuất điện và các ngành công nghiệp nặng, trong khi dầu chủ yếu phục vụ giao thông vận tải và công nghiệp chế biến. Khí tự nhiên tiếp tục là nguồn nhiên liệu quan trọng cho các nhà máy điện khí và một số lĩnh vực sản xuất công nghiệp. Ngược lại, các nguồn năng lượng tái tạo như thủy điện, gió và mặt trời mới đóng góp khoảng 10% tổng cung năng lượng sơ cấp tại Việt Nam.

Hình 11: Cơ cấu nguồn cung năng lượng tại Việt Nam năm 2023.

Lượng tiêu thụ năng lượng của Việt Nam đã tăng gấp đôi trong vòng 10 năm qua, trong đó than và dầu vẫn giữ vai trò chi phối trong cơ cấu tiêu thụ. Than đã trở thành nguồn năng lượng chủ đạo kể từ năm 2014, đóng góp lớn nhất vào mức tăng tổng tiêu thụ, trong khi dầu mỏ tiếp tục giữ vị trí quan trọng thứ hai nhưng tốc độ tăng đã chậm lại kể từ sau năm 2020. Các nguồn năng lượng tái tạo như điện gió và điện mặt trời ghi nhận mức tăng trưởng mạnh mẽ trong giai đoạn 2019 – 2022, song đã có dấu hiệu chững lại trong những năm gần đây.

Hình 12: Cơ cấu tiêu thụ năng lượng tại Việt Nam giai đoạn 2010 – 2024 (Nguồn: Our World in Data).

1.2.2. Nhu cầu và tiềm năng khai thác các nguồn năng lượng sơ cấp trong nước

Về tiềm năng, Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên năng lượng sơ cấp đa dạng, đặc biệt là năng lượng tái tạo. Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, tiềm năng kỹ thuật của điện gió trên bờ và gần bờ đạt khoảng 221 GW, điện gió ngoài khơi khoảng 600 GW. Tiềm năng điện mặt trời ước đạt khoảng 963 GW, trong khi tiềm năng thủy điện vào khoảng 40 GW. Đây là nền tảng để giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu trong trung và dài hạn, dù mức độ khai thác thực tế hiện nay còn tương đối hạn chế so với tiềm năng kỹ thuật.

Đối với các nguồn năng lượng hóa thạch, Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 định hướng khai thác hợp lý và hiệu quả các mỏ than, dầu khí hiện có, đồng thời mở rộng công tác thăm dò tại các khu vực tiềm năng. Sản lượng than thương phẩm khai thác trong nước giai đoạn đến năm 2030 dự kiến đạt khoảng 45 – 50 triệu tấn/năm và giảm dần trong giai đoạn 2031 – 2045, còn khoảng 38 – 40 triệu tấn vào năm 2045. Trong lĩnh vực dầu khí, chiến lược đặt mục tiêu phát triển hệ thống lọc – hóa dầu đáp ứng tối thiểu 70% nhu cầu xăng dầu trong nước, nâng mức dự trữ xăng dầu lên tương đương 75 – 80 ngày nhập ròng sau năm 2030, đồng thời bảo đảm năng lực nhập khẩu LNG khoảng 15 – 20 tỷ m³ vào năm 2030 và 10 – 15 tỷ m³ vào năm 2045.

Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn tới, Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đặt mục tiêu bảo đảm cung cấp đủ điện cho tăng trưởng GDP bình quân khoảng 10,0%/năm trong giai đoạn 2026 – 2030 và 7,5%/năm trong giai đoạn 2031 – 2050. Đồng thời, theo Nghị quyết 70, tổng cung năng lượng sơ cấp đến năm 2030 dự kiến đạt 150 – 170 triệu tấn dầu quy đổi (MTOE), trong đó năng lượng tái tạo chiếm khoảng 25 – 30%.

Hình 13: So sánh mức tăng tổng cung năng lượng sơ cấp trong quá khứ và mức cần thiết để đạt mục tiêu 2030 (Nguồn số liệu: VNEEP, Báo Công thương, Nghị quyết 70).

Với mục tiêu tổng cung năng lượng sơ cấp nêu trên, mức tăng trưởng trung bình hằng năm trong giai đoạn 2024 – 2030 cần đạt khoảng 4,4 – 6,6%, trong khi mức tăng trưởng bình quân giai đoạn 2019 – 2024 đạt khoảng 4,2%. Chênh lệch này cho thấy sự cần thiết phải duy trì đà tăng trưởng năng lượng ở mức cao và ổn định trong thời gian tới, đây cũng là thách thức nhất trong việc hiện thực hóa các mục tiêu an ninh năng lượng theo Nghị quyết 70.

1.2.3. Các giải pháp khai thác và sử dụng hiệu quả năng lượng sơ cấp.

Nghị quyết 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 và Nghị quyết 328/NQ-CP ngày 13/10/2025 đã đề ra các định hướng và giải pháp để khai thác và sử dụng hiệu quả năng lượng sơ cấp. Trong đó có các định hướng và nguyên tắc chung như sau:

  • Khai thác và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm, bền vững các nguồn năng lượng sơ cấp, gắn với chuyển đổi năng lượng, giảm phát thải và bảo vệ môi trường.
  • Đa dạng hóa nguồn năng lượng, ưu tiên năng lượng trong nước, giảm phụ thuộc nhập khẩu.
  • Phát triển đồng bộ giữa năng lượng hóa thạch – năng lượng tái tạo – năng lượng mới.
  • Ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong ngành năng lượng.

Các giải pháp cụ thể được phân loại theo các nhóm sau:

b. Hoàn thiện thể chế, chính sách

  • Đẩy nhanh việc rà soát, sửa đổi và thực thi hiệu quả các luật về điện lực, dầu khí, khoáng sản và sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; tháo gỡ điểm nghẽn trong quy hoạch, cấp phép và huy động vốn cho các dự án năng lượng. 
  • Hoàn thiện cơ chế tài chính để huy động tối đa vốn đầu tư tư nhân, đầu tư nước ngoài theo hình thức đối tác công tư (PPP), đồng thời xây dựng các gói tín dụng và ưu đãi thuế cho dự án năng lượng xanh, sạch, công nghệ mới.

c. Phát triển nguồn cung và hạ tầng năng lượng

  • Đa dạng hóa và tối ưu cơ cấu các nguồn năng lượng, bao gồm khai thác hợp lý dầu khí, than trong nước song song với phát triển mạnh năng lượng tái tạo và năng lượng mới. 
  • Hình thành các trung tâm công nghiệp năng lượng tích hợp điện – khí – lọc hóa dầu – năng lượng tái tạo.
  • Tăng cường dự trữ năng lượng chiến lược, đầu tư kho lưu trữ dầu, khí, than và phát triển hạ tầng truyền tải đồng bộ, hiện đại.

d. Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

  • Thực hiện cơ cấu lại các ngành sử dụng nhiều năng lượng, đặt chỉ tiêu bắt buộc về tiết kiệm năng lượng cho từng lĩnh vực, thúc đẩy cải tiến công nghệ và loại bỏ dần thiết bị, phương tiện tiêu hao năng lượng cao. 
  • Khuyến khích doanh nghiệp và hộ tiêu dùng áp dụng mô hình tự sản xuất – tự tiêu thụ điện tái tạo, hệ thống thu hồi năng lượng, phát triển điện mặt trời mái nhà và lưu trữ năng lượng.

e. Chuyển đổi năng lượng và giảm phát thải

  • Triển khai chương trình chuyển đổi năng lượng quốc gia, giảm dần sử dụng nhiên liệu hóa thạch trong sản xuất điện, có lộ trình chuyển đổi sang khí tự nhiên, sinh khối, hydro và amoniac. 
  • Tăng cường áp dụng công nghệ cacbon thấp, thúc đẩy thị trường cacbon và tín dụng xanh.

f. Khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực

  • Đẩy mạnh nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong quản lý, vận hành hệ thống năng lượng.
  • Phát triển công nghiệp sản xuất thiết bị năng lượng trong nước; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, từng bước làm chủ công nghệ hiện đại.

g. Hợp tác quốc tế và huy động nguồn lực

  • Tăng cường hợp tác năng lượng với các nước trong khu vực và đối tác có công nghệ tiên tiến.
  • Tận dụng nguồn vốn ODA, vốn JETP và các quỹ quốc tế về chuyển đổi năng lượng.
  • Phát triển thị trường trái phiếu xanh, thúc đẩy tín dụng và đầu tư xanh phục vụ mục tiêu phát triển bền vững.

Các tổ chức quốc tế cũng nhấn mạnh một số biện pháp để khai thác và sử dụng hiệu quả năng lượng sơ cấp, tương tự với các nhóm giải pháp nêu trên. Theo IEA, việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là giải pháp có chi phí thấp nhất để giảm nhu cầu năng lượng sơ cấp. DNV nhấn mạnh việc đầu tư xây dựng hệ thống năng lượng linh hoạt thông qua nâng cấp lưới điện, phát triển lưu trữ năng lượng và các giải pháp đáp ứng phụ tải nhằm tăng khả năng tích hợp năng lượng tái tạo. Cùng với đó là vai trò quan trọng của công nghệ số trong tối ưu vận hành và giảm phát thải. IEA cũng khuyến nghị tăng cường hợp tác và kết nối khu vực trong ASEAN nhằm nâng cao hiệu quả và an ninh năng lượng, tận dụng sự lệch pha đỉnh phụ tải giữa các quốc gia cũng như khả năng tiếp cận các nguồn năng lượng tái tạo chi phí thấp trong khu vực.

(Còn tiếp)

Tài liệu tham khảo:

[1] Our World in Data, “Global primary energy consumption by source”, https://ourworldindata.org/grapher/global-energy-substitution.
[2] IEA, “World Energy Investment 2025”, Paris, 2025.
[3] DNV, “Energy Transition Outlook 2025: A Global and Regional Forecast to 2060”, 2025.
[4] McKinsey & Company, “Global Energy Perspective 2025”, 2025.
[5] BP plc, “BP Energy Outlook 2025”, 2025.
[6] World Energy Council, “World Energy Trilemma 2024: Evolving with Resilience and Justice”, 2024.
[7] World Energy Council, “World Energy Trilemma Index - Vietnam profile”, https://trilemma.worldenergy.org/#!/country-profile?country=Vietnam&year=2023.
[8] VNEEP, “Thống kê năng lượng Việt Nam 2023”, 2024.
[9] Ember, “Energy Security in an Insecure World: The New Electrotech Strategy”, 2025.
[10] VnExpress, “Việt Nam chi hơn 1,8 tỷ USD nhập than giá rẻ”, http://vnexpress.net/viet-nam-chi-hon-1-8-ty-usd-nhap-than-gia-re-4881374.html.
[11] VnExpress, “Nhập hơn 26 triệu tấn than cho sản xuất điện năm 2024”, https://vnexpress.net/nhap-hon-26-trieu-tan-than-cho-san-xuat-dien-nam-2024-4686944.html.
[12] VietNamNet, “NSMO lý giải nguyên nhân cắt giảm công suất điện gió: Thừa nguồn giữa mùa mưa lũ”, https://vietnamnet.vn/nsmo-ly-giai-nguyen-nhan-cat-giam-cong-suat-dien-gio-thua-nguon-giua-mua-mua-lu-2461432.html.
[13] Xuân Phong, “Đề xuất doanh nghiệp tham gia dự trữ xăng dầu quốc gia”, https://tienphong.vn/de-xuat-doanh-nghiep-tham-gia-du-tru-xang-dau-quoc-gia-post1794293.tpo, 2025.
[14] IEA, “Integrating Solar and Wind in Southeast Asia”, Paris, 2025.

Trích Tạp chí Phân tích và nhận định của PECC2 về Triển vọng Phát triển Năng lượng Việt Nam - Ấn bản 2025

Chia sẻ: